Pages

Subscribe:

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

Lập luận của Adam Smith về thị trường

     Cần đối đầu với những ảnh hưởng đó không chỉ thông qua việc chống trả- mà có lẽ cả bằng “vạch mặt” (đây là dùng một từ đã cũ) những kẻ trục lợi từ các thị trường bị giam hãm, và cả bằng cách xem xét kỹ và đả kích các lập luận trí tuệ của họ. Kinh tế học đã có truyền thống lâu đời về định hướng phê phán đó, ít nhất là từ bản thân Adam Smith, người đã vạch mặt các thủ phạm đồng thời vạch trần những lập luận của họ vin cớ lợi ích xã hội để ngăn cấm cạnh tranh. Smith lập luận rằng những giới đặc quyền có khả năng thắng lợi vì họ có “hiểu biết tốt hơn về lợi ích của bản thân họ” (chứ không phải là “họ có hiểu biết về lợi ích công cộng”). Adam Smith đã viết:

     “Tuy nhiên, lợi ích của các nhà kinh doanh trong bất cứ ngành thương nghiệp hoặc chế tạo nào luôn luôn khác và thậm chí trái ngược với lợi ích của công chúng trên một số mặt nào đố. Các nhà kinh doanh luôn luôn có quyền lọi trong việc mở rộng thị trường và thu hẹp cạnh tranh. Nhiều khi mỏ rộng thị trường có thể là tương đối phù hợp với lợi ích của công chúng, nhưng thu hẹp cạnh tranh thì luôn luôn đi ngược lại lợi ích của công chúng và chỉ khiến cho các doanh nhân cố thể tăng lợi nhuận nhiều hơn mức lợi nhuận tự nhiên của họ và, vì lọi ích riêng của mình, áp đặt một thứ thuế vô lý lên các công dân. Việc đề nghị bặt cứ luật lệ, quy định mới nào về thương mại thuộc loại này cần phải luôn luôn được lắng nghe một cách rất thận trọng vả không bao giờ nền được thông qua trước khi xem xét kỹ càng trong một thời gian dài không những với sự chăm chú tỷ mỉ nhất mà cỏn với sự nghi ngờ lớn nhất”

thị trường


     Nếu cho phép và thúc đẩy tranh luận công khai thì không có lý do gì các giới đặc quyền lại glành được thắng lợi. Lập luận nổi tiếng của Pareto đã minh hoạ một nghìn người bị tồn thất nhẹ về lọi ích do chính sách nuôi béo lợi ích của một nhà kinh doanh, nhưng khi người ta đã thấy rõ tình hình thì không phải không có khả năng một đa số sẽ chống lại những lập luận đặc biệt đó. Đây là một lĩnh vực lý tưởng để có thêm nhiều cuộc thảo luận công cộng về các ý kiến khẳng định và phản bác của các bên khác nhau, và trong cuộc thử thách của nền dân chủ cởi mở, lợi ích công cộng có thể có triển vọng tốt đẹp để chiến thắng luận điệu ngang bướng của nhóm nhỏ các giới đặc quyền. Cũng giống như ở nhiều bình diện khác đã được bàn đến trong cuốn sách này, phương thuốc chữa chạy là cần có thêm quyền tự do hơn nữa- gồm cả thảo luận công cộng và các quyết định chính trị có sự tham gia của công chúng. Một lần nữa, một loại quyền (trong trường hợp này đó là tự do chính trị) có thể được coi như đã góp phần vào việc đạt được các loại quyền tự do khác (đạc biệt là sự cởi mở về kinh tế).


Từ khóa tìm kiếm nhiều: tăng trưởng kinh tế, kinh tế nhật bản

Nét nổi bật trong quá trình cách mạng công nghiệp ở Nhật

       Một nét nổi bật trong quá trình cách mạng công nghiệp ở Nhật là sự tách rời giữa nông nghiệp và công nghiệp, nông nghiệp ngày càng lạc hậu hơn so với công nghiệp. Mặc dù trong thời kì Minh Trị, một số biện pháp cải tiến trong nông nghiệp đá được thực hiện như áp dụng giông mới, cải tiến thủy lợi, phổ biến sử dụng phân bón v.v… nhưng nông nghiệp được coi là lĩnh vực ít được chú ý đầu tư. Nông nghiệp vẫn trong tinh trạng sản xuất nhỏ, lạc hậu, ruộng đất bị phân tán. Cho đến đầu thế kỷ XX, trên 2/3 dân số vẫn song chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Vì vậy, ngay từ đầu ở Nhật đá hình thành nên hai khu vực kinh tế trái ngược nhau, một khu vực công nghiệp hiện đại Và một khu vực nông thôn lạc hậu.

       Mặc dù cho đến đầu thế kỷ XX, Nhật Bản còn kém các nước Mĩ, Đức, Anh, Pháp về mặt chỉ tiêu tuyệt đôi, nhưng cách mạng công nghiệp từ sau cải cách Minh Trị đả phát triển nhanh chóng, nhất là trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nhật Bản đã biết tiếp thu nhanh chóng kỹ thuật từ bên ngoài để đẩy nhanh nhịp độ phát triển các ngành công nghiệp. Từ năm 1888 đến 1913, sản lượng khai thác than tăng lên 20lần, sản lượng đồng tăng lên 13 lần. Nhịp độ phát triển công nghiệp trung bình hàng năm từ 1878 đến 1913 tăng khoảng 6%.

công nghiệp ở Nhật


      Cách mạng công nghiệp ở Nhật cũng được gắn liền với quá trình chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền.

       Phân tích đặc điểm của đế quốc Nhật, Lênin đã gội đó là chủ nghĩa đế quốc phong kiến quấn phiệt. Ớ Nhật, nhiều tổ chức độc quyền đã xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu của cách mạng công nghiệp. Năm 1880, Liên hiệp độc quyền giấy được thành lập. Hãng Misui có từ thế kỷXVI đã phát triển thành công ti kinh doanh cả trong công nghiệp và thương nghiệp. Phần lớn các hãng cho vay nặng lãi thời kì phong kiến đã nhanh chóng trở thành các hãng tư bản lớn. Các tập đoàn tài phiệt như Mitsui, Mitsubisi, Xumimôtô đã chiếm địa vị thống trị và chi phối toàn bộ nền kinh tế Nhật Bản.

      Mặc dù Nhật Bản đã bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, nhưng những tàn dư của chế độ phong kiến vẫn còn tồn tại rất dai dẳng. Những tàn dư này thể hiện rõ nét trong các lĩnhvực kinh tế, chinh trị, trong các môi quan hệ xãhội và giađình. Lợi dụng một số nhân tố tư bản độc quyền Nhật bảntăng cường bóc lột sức lao động của các tầng lớp nhân dân  kể cả phụ nữ và trẻ em. Vì vậy, những người lao động Nhật phải lao động hết sức vất vả với điều kiện sống thấp kém ;Để mở rộng thị trường thuộc địa, đế quốc Nhật đã tiến hànhchiến tranh xâm lược hết sức điên cuồng và thô bạo. Đó là các cuộc chiến tranh Trung – Nhật (1894-1895), chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905), chiến tranh xâm lược Triều Tiên (1910).

Bangkok-Venice Phương Đông

         Sáng sớm tinh mơ, trời chưa sáng rõ, sương đêm chưa tan hết, tiếng rao hàng huyên náo từ “ khu chợ trên sông” dã đánh thức cả thủ đô Bangkok của nước Thái Lan còn chìm trong giấc ngủ. Thành phố Bangkok lại bắt dầu một ngày mới.

        Bangkok nằm ở phía nam Thái Lan, cách vịnh Bangkok chừng 20 km. Diện tích thành phố Bangkok là l568km2 tính cả vùng ngoại thành, dân số 5.550.000 người. Dòng sông Mêkông mà người Thái gọi là “Sông Mẹ” từ từ chảy qua phía Tây thành phốBangkok chia ra làm nhiều nhánh sông khiến Bangkok chằng chịt sông ngòi, địa thế trũng thấp, từng bị gọi là “Biển bùn”. Người dân Bangkok cần cù với đôi tay của minh đã đào nên dòng hào thành và những dòng sông khác, băc nhiều chiếc cầu như những dải lụa căng ngang sông. Một phần trăm dân thành phô”Bangkok cất nhà ở dọc theo sông rạch, họ cất nhà sàn gỗ trên mặt nước, lợp nhà bằng lá dừa. Sóng lượn nhấp nhô, thuyền ghe đu đưa theo sóng, nhà sàn hai bên bờ sông in hình xuống mặt nước lung linh, bồng bềnh, trông đẹp như tranh, hiện rõ hình ảnh một thành phô” trên nước, vì thế mà mang tên gọi “Thành phố Venice của phương Đông”

Bangkok-Venice Phương Đông


        Đường sông, kênh rạch uốn lượn quanh co tạo nên phố phường ngõ hẻm, ghe xuồng, thuyền máy thay thê” cho xe cộ. Hằng ngày, ở sông lớn hay kênh rạch nhỏ đều có ghe xuồng nườm nượp ngược xuôi như mắc cửi. Những chiếc ghe lượn độc mộc thon dài như lá liễu chở đầy rau quả, đồ gia dụng… chèo dọc theo kênh rạch rao bán hàng. Những người mua hàng với xuống mũi thuyền lựa những thứ mình cần mua, hình thành những điếm bán hàng lưu động nối tiếp nhau không đi. Nhiều tiệm bán hàng cất nhô ra bờ sông cùng tranh nhau mọc lên buôn bán. Ánh nắng mặt trời lấp lánh chiếu xuống mặt nước lung linh.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: quyền tự do kinh doanh, kinh tế nhật bản

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Nền kinh tế của chế độ phong kiến Nhật Bản

       Nông nghiệp là cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến Nhật. Nông dân bị bóc lột đến cùng cực, tô thuế nặng nề. Từ năm 1771 đến 1789 có gần một triệu người bị chết đói. Phần lớn ruộng đất tập trung vào tay bọn phong kiến, quý tộc. Một bộ phận trong tầng lớp trên bị phân hóa. Sự chuyển biến về mặt xã hội và khủng hoảng của nến kinh tế nông nghiệp từ thế kỉ XVIII đã làm cho nền kinh tế phong kiến Nhật ngày càng bị lung lay tận gốc.

      Từ cuối thế kỉ XVII, nội thương bắt đầu được mở rộng và đã đóng vai trò quan trọng làm tan rã dần chê độ phong kiến Nhật. Trước thế kỉ XVIII, hàng hóa thường được trao đổi trực tiếp, tô hiện vật là chủ yếu, nhưng dần dần quan hệ hàng  tiền ngày càng phát triển nhất là ở vùng Tây Nam. Cuối thế kỉ XVII có khoảng 14,51% dân số sống về nội thương. Hoạt động của bọn đầu cơ ở vùng nông thôn đã thu hút phần lớn hoạt động thủ công nghiệp gia đình của nông dân và đẩy nhanh sự phá sản của nông dân. Bọn đầu cơ và tầng lớp thương nhàn ngày càng có thế lực kinh tế mạnh mẽ. Ngay cả một bộ phận lãnh chúa, võ sĩ đạo do bị nghèo đói cũng phải lệ thuộc vào tầng lớp này.

Nền kinh tế Nhật Bản


        Trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất bắt đầu có sự tách rời giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thành thị và nông thôn. Cuối thế kỉ XVII, ở Nhật có đến 130 loại nghề thủ công. “Thủ công nghiệp gia đình” của nông dân phát triển và sự xuất hiện một tầng lớp thương nhân giàu có là tiền đề cho sự ra đời của công trường thủ công phân tán.

        Nhiều nhà buôn và chủ cho vay nặng lãi đã tích lũy được một số vốn lớn. Trong xã hội diễn ra sự phân hóa sâu sắc. Một bộ phận nông dân do bị bóc lột nặng nề đã rời bỏ nông thôn và trở thành những người làm thuê.

        Như vậy, từ thế kĩ XVII, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện, nhưng không có những điều kiện phát triển thuận lợi như ở châu Âu. Chế độ phong kiến chuyên chế ở Nhật không đóng vai trò quan trọng trong sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Nhà nước phong kiến Nhật thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”, cô lập với thế giới bên ngoài. Đầu thế kĩ XVII, thuyền buôn của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan đã đến buôn bán nhưng đều bị chính quyền phong kiến Nhật khước từ. Ở trong nước, quá trình tích lũy vốn diễn ra rất chậm chạp. Chế độ phong kiến Nhật tồn tại khá bền vững. Chế độ cát cứ, quy chế phường hội đã hạn chế sự phát triển thương nghiệp và công trường thủ công, phần lớn của cải cướp đoạt của nông dân tập trung vào tay bọn phong kiến quan lại ăn chơi xa xỉ. Các đạo luật cấm mua bán ruộng đất, cấm chia nhỏ ruộng đất đã làm giảm tốc độ phân hóa trong nông thôn. Do đó, “thủ công nghiệp gia đình” với tính tự cấp tự túc của nó có điều kiện tồn tại lâu dài.



Đọc thêm tại:

Tình hình kinh tế Mĩ sau năm 1976

        Nhìn vào kinh tế Mĩ từ sau 1976 tới nay có những chuyển biên nhất định. Nền kinh tế Mĩ từng bước ra khỏi khủng hoảng kinh tế (1980-1982) và sau đó đã tăng liên tục, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm trong thời kì (1980-1990) là 2.9% (so với 2,4% trong thời kì 1974-1979). Chỉ riêng năm 1988, ởMĩ có 1,3 triệu XI nghiệp mới được thành lập. Khối lượng sản phẩm mới hàng năm ngày càng nhiều. Ví dụ công ti “ZM” ờ Mĩ hơn 25% khối lượng hàng hóa bán ra trong năm là những sản phẩm mới mà 5 năm trước đó chưa từng có trên thị trường. Công ti ZM co tới 60.000 sản phẩm từ các loại quần áo trê em, tới các thiết bị y tế, lade, sợi quan học được bán trên thị trường rộng lớp 100 nước.

        Kể từ cuối thập kỉ 70, tuy Mĩ cố gắng vươn lên giành giật lại ưu thế trước đây đã mất trong thế giới tư bản, nhưng điều đó không dễ dàng thực hiện được. Vào năm 1980 tỉ trọng công nghiệp Mĩ trong thế giới tư bản giảm xuống 37%, nhưng Tây Âu lại tăng lên 31%, Nhật tăng lên 10%, Năm 1979, về xuất khẩu Mĩ giảm xuống 12%, Tảy Âu tăng lên 46%, Nhật tăng 8%. Về dự trữ vàng tính theo đô la, năm 1979 Mĩ khoảng 19 tỉ, Tây Âu là 48 tỉ, Nhật 25 tỉ. Trong lĩnh vực thương mại, không chỉ trên thị trường quốc tế, mà ngay trên đất Mĩ, hàng Nhật vẫn lôi cuốn được người tiêu dùng. Hàng Nhật bán trên đất Mĩ tỉ lệ bảo hành 1%, trong khi ấy với hàng Mĩ tỉ lệ bảo hành theo yêu cầu của khách hàng lên tới 70-80%.

kinh tế Mĩ


         Đây là vấn đề làm đau đầu các nhà kinh doanh Mĩ. Mặc dù họ đã chú trọng đổi mới công nghệ, đổi mới trong quản lý kinh doanh. Bên cạnh đó việc tăng lãi suất để thu hút nguồn vốn từ trong và ngoài nước khiến cho hoạt động tín dụng đã trở thành gánh nặng với nền kinh tế. Mĩ thiếu hụt ngân sách nặng nề hơn: 1979-1980 hụt 45 tỉ, đến 1990 hụt 220,4 tỉ đô la, lạm phát vẫn gia tăng.

          Nước Mĩ ra đời cách đây hơn 200 năm (1776), tới năm 1945, với tiềm năng kinh tế to lớn, Mĩ đã trở thành kẻ thống trị tuyệt đối trong thế giới tư bản. Nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trong đầu những năm 70, thì sự lớn mạnh của châu Âu và Nhật Bản đã làm thay đổi cục diện trong nền kinh tế thế giới tư bản. Đây là thời kì thế giới tư bản hình thành trung tầm Mĩ, Tây Âu và Nhật Bản. Vị trí kinh tế của Mĩ ngày càng suy giảm. Nhưng với tham vọng to lớn, từ những năm cuối của thập kỉ 70, Mĩ tìm cách khôi phục lại địa vị của mình trước đây. Qua thực tế thì ý đồ của Mĩ không dễ dàng thực hiện. Đứng trước Tây Âu và Nhật Bản, rõ ràng những thách thức lớn đang được đặt ra với Mĩ.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: vai trò của thông tin, kinh te nhat ban

Mĩ tiếp tục chạy đua vũ trang để thực hiện âm mưu của mình

         Các công ti Mĩ đua nhau áp dụng hình thức đội sản xuất tự quản. Hình thức này đã lan rộng trong các ngành công nghiệp như ô tô, điện tử, thực phẩm, thép v.v… thậm chí trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ở Mĩ vào những năm 80; 70% trong số 476 công ty to lớn đã áp dụng hình thức này.

        Mĩ vẫn xúc tiến chạy đua vũ trang quân sự hóa nền kinh tế. Từ 1981-1988 Mĩ đã chi 1830 tỉ đô la cho chương trình quân sự. Riêng chương trình SDI đã tiêu tốn của Mĩ hàng trăm tỉ đô la. Với chương trình này, ngoài cuồng vọng là một siêu cườngduy nhất, Mĩ muốn độc chiếm khai thác không gian vũ trụ. Trong những năm qua, Mĩ vẫn là nước xuất khẩu vũ khí lớn nhất từ 1985-1989, số vũ khí Mĩ xuất khẩu là 53 tỉ đô la, trong khi ấy Pháp là 16 tỉ đô la, Anh 8 tỉ đô la, Ý 2 tỉ đô la v.v. Vềphương diện quân sự, Mĩ ép Tây Âu và Nhật phải thực hiệnchính sách “chia sẻ trách nhiệm”. Nghĩa là Tây Âu và Nhật phải cùng chạy đua vũ trang, cũng chia sẻ gánh nặng quân sự vớiMĩ. Mĩ đã ép khối Natô phải hiện đại hóa vũ khí theo nguyên tắc thống nhất và đồng bộ. Thực tế Mĩ đã ép các nước trong khối Natô phải mua vũ khí và các thiết bị quân sự của Mĩ

chạy đua vũ trang


         Để giải quyết nguồn vốn trước những yêu cầu về kinh tế kĩ thuật, quân sự, Mĩ đã tăng lãi suất đồng đô la lên 9-15$ để thu hút vốn từ trong và ngoài nước. Ý đồ Mĩ muôn độc quyền chiếm nguồn tin dụng quốc tế. Từ 1981-1985, Mĩ đã hút 1060 tỉ đô la vốn đầu tư của nước ngoài.

         Ngoài những chính sách và biện pháp kinh tế nói trên, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, đứng trước cuộc chạy đua và cạnh tranh quyết liệt của Tây Âu, Nhật Bản, Mĩ không tránh khỏi những lúng túng, bị động. Thời gian qua những hoạt động liên kết kinh tế khu vực của các nước Tây Âu, cũng như của Nhật đang được nhen nhóm ở châu Á, Mĩ muốn lôi kéo Canada, Niudilân thành một liên minh kinh tế khu vực nhằm đôi phó với Tây Âu và Nhật, về kinh tế, Mĩ cũng chú ý tới sân sau của mình là khu vực Mĩ la tinh.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: nền kinh tế mỹ, kinh tế nhật bản

Kinh tế Mĩ từ sau chiến tranh Việt Nam (1976-1990)

Vào những năm 70, thế giới tư bản đã hình thanh ba trung tăm kinh tế là Mĩ – Tây Âu- Nhật Bản.Tuy sức mạnh kinh tế của Nhật Bản và Tây Âu cộng lại đã vượt Mĩ. Nhưng so với Tây Âu và Nhật Bàn, thi tiếm lực kinh tế kĩ thuật của Mĩ vẫn còn khá mạnh, đặc biệt là tiềm năng quân sự. Vì vậy, Mĩ bằng mọi thủ đoạn đã điên cuồng tìm cách giành lại ưu thế của mình với tư cách là trung tâm kinh tế kĩ thuật của thế giới tư bản.

      Mĩ ra sức lợi dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học  kĩ thuật hiện đại nhằm hiện đại hóa sản xuất và chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế.

      Trong công nghiệp, Mĩ hướng sự phát triển vào những ngành mang hàm lượng khoa học kĩ thuật cao, vốn đầu tư lớn, như công nghệ tin học, công nghệ vũ trụ, công nghệ sinh học, công nghệ sản xuất vật liệu mới v.v. Đãy là những ngành có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao và đang có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển cũng như ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Tuy đầu tư phát triển những ngành công nghiệp này vô cùng tốn kém, nhưng người Mĩ đãnhận thức được rằng nếu không chú trọng đầu tư dài hạn, thì ngay những lợi ích trước mắt nhiều khi cũng không thu hoạch được. Trong sản xuất, Mĩ chú ý nâng cao chất lượng sản phẩm, chỉ riêng những năm 80, Mĩ đã dành 20 tỉ đô la để mua các thiết bị kĩ thuật kiểm tra sản phẩm.

Kinh tế Mĩ


        Trong quá trình áp dụng công nghệ mới, người Mĩ đã nhận thấy việc đổi mới công nghệ phải gắn liền với đổi mới quản lí. Vào cuối thập kĩ 70, người Mĩ đã thừa nhận sự thất bại của mô hình quản lí Taylo trong sản xuất và kinh doanh hiện đại. Do vậy, một số xí nghiệp đã im lặng xem xét và áp dụng mô hình của Nhật trong điều hành sản xuất và kinh doanh. Những xí nghiệp này tuy có giành được một số kết quả, nhưng người Mĩ thấy rằng không thể sao chép nguyên mẫu mô hình quản li của Nhật vào điều kiện kinh tế xã hội ở Mĩ.

        Do vậy, vào cuối thập kĩ 80, người Mĩ đả tim kiếm tư duy mới trong quản lí. Nhìn chung trong quản lí ở Mĩ có một số điểm đáng chú ý. Các công ti, người ta chú trọng xây dựng bầu không khí hợp tác và sáng tạo. Các công ti đã có những hình thức mềm dẻo trong điều hành và quản lí lao động. Hiện nay quan điểm lôi cuốn người lao động tham gia quản lí sản xuất đang được nhiều người Mĩ quan tâm. Họ cho rằng vấn đề này sẽ đặt ra nhiều hứa hẹn cho kinh tế Mĩ trong việc cạnh tranh với Tây Âu và Nhật Bản. Tình hình những năm qua cho thấy nhiều công ti Mĩ đã giao quyền độc lập đáng kể cho các bộ phận sản xuất và kinh doanh. Các công ti chỉ tiến hành kiểm tra một sô lượng tôi thiểu các chỉ tiêu mà thôi.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế mỹ, kinh te nhat ban

Sự giảm sút của nền kinh tế Mĩ cuối thế kỷ XVIII

      Trong sản xuất công nghiệp có tình trạng máy móc thường xuyên không sử dụng hết công suất, từ 1973-1975, công suất sử dụng máy móc bình quân đặt 70%. Với sản xuất công nghiệp, Mĩ đã mất đi ưu thế trong nhiều ngành công nghiệp quan trọng. Ví dụ trong ngành sản xuất ô tô, một công nhân Mĩ sản xuất trong một năm 25 chiếc ôtô thì công Nhật trong một năm sản xuất 48-50 chiếc ô tô.

       Trong công nghiệp sản xuất thép, một năm, một công nhân Mĩ sản xuất được 250 tấn thép, thì một công nhân Nhật sản xuất được 421 tấn. Sự thua kém về năng suất lao động khiến cho khả năng cạnh tranh hàng hóa của Mĩ trên thị trường sút kém. Điều đáng lo ngại với Mì là hàng hóa Nhật bán tràn ngập trên thị trường nước Mĩ, rất phù hợp với thị hiếu và tâm lí tiêu dùng của người Mĩ.

kinh tế Mĩ


      Thực tế cho thấy, Nhật Bản đã cướp mất khách của Mĩ ngay trên thị trường nước mình. Sản xuất trong tình trạng như vậy đá kéo theo hàng loạt những khó khán khác về kinh tế. Nhìn vào cán cân thương mại của Mĩ, trong nhưng năm 50, 60, hiện tượng xuất, siêu giảm dần, nhưng bước vào những năm 70, cán cân thương mại Mĩthường xuyên thiếu hụt do nhập siêu. Cũng trong khoảng thời gian ấy, tình trạng ngân sách nhà nước thiếu hụt ngày càng tăng. Năm 1964-1965 là 1,6 tỉ đô la, năm 1967-1969 là 25 tỉ đô la.

       Tình trạng ngân sách thiếu hụt khiến cho lạm phát gia tăng, năm 1960-1965, tiền tệ lạm phát 1,3%, năm 1976 là  9 1%. Lạm phát kéo dài với tốc độ tăng nhanh khiến cho đồng đô la vào những năm 70 chính thức phá giá 2 lần. Như vậy vấn đề lạm phát đã trở thành hiện tượng kinh tế, chính trị, thường xuyên trong đời sống nước Mĩ.

      Mĩ đã mất đi địa vị thống trị tuyệt đối trong nền kinh thế giới tư bản. Sự lớn mạnh của Nhật Bản và Tây Âu đã chấmdứt thời kì làm mưa làm gió của Mĩ. Trong thời gian 25 năm(1950-1975), tốcđộ phát triển kinh tế của Mĩ chậm hơn so vớicác nước tư bản khác, về sản xuất công nghiệp của Mĩ tăng 1,5 lần, nhưng Nhật Bản tăng 17 lần, Ý tăng 5 lần. Cộng hòa liên bang Đức tăng 4,4 lần và Pháp táng 3,3 lần.

       Do vậy, tương quan kinh tế giữa Mĩ – Tây Âu – Nhật Bản ngày càng thay đổi theo hướng bất lợi cho Mĩ. Chỉ riêng trong lĩnh vực công nghiệp, tỉ trọng công nghiệp giữa Mĩ – Tây Âu – Nhật Bản thể hiện rất rõ nét: năm 1948, Mĩ chiếm 54,6%, Tây Âu 28,8%, Nhật Bản 1,2%; năm 1973, Mĩ chiếm gần 40%, Tây Âu 31%, Nhật Bản 9.2% Như vậy sức mạnh kinh tế của Tây Âu cộng với Nhật Bản đã vượt Mĩ. Do vậy, trong thế giới tư bản, Mĩ không còn là trung tâm kinh tế duy nhất, Tây Âu và Nhật Bản đã trở thành những địch thủ cạnh tranh quyết liệt với Mĩ.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh te my, kinh tế nhật bản

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

Tình trạng thiếu dinh dưỡng ở Ấn Độ và Châu Phi

       Chúng ta sẽ thấy một cân bằng rất khác biệt về những bất lợi nếu xem xét tình trạng thiếu dinh dưỡng lan tràn ở Ấn Độ so với châu Phi. Số liệu về thiếu dinh dưỡng tổng thể ở Ấn Độ cao hơn rất nhiều so với mức trung bình ở vùng cận Sahara mặc dù Ấn Độ “tự túc” được về lương thực còn vùng cận Sahara lại không tự túc được về lương thực. Sự tự túc của Ấn Độ dựa trên việc đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường, một điều có thể dễ dàng đạt được trong những năm bình thường bằng lượng lương thực sản xuất ở trong nước. Nhưng nhu cầu thị trường (dựa vào sức mua) phản ánh không đầy đủ nhu cầu về lương thực. Tình trạng thiếu dinh dưỡng thực tế ở Ấn Độ dường như caohơn vùng cận Sahara thuộc châu Phi.

     Xét theo tiêu chuẩn thông thường về sự chậm tăng cân so với độ tuổi thì tỷ lệ trẻ em thiếu dinh dưỡng ở châu Phi là từ 20 đến 40% còn ở Ấn Đô từ 40 đến 60%. Dưòng như có khoảng 50% trẻ em Ấn Độ bị thiếu dinh dưỡng trầm trọng. Trong khi người dân Ấn Độ sống lâu hơn người dân vùng cận Sahara thuộc châuPhi, và có độ tuổi tử vong trung vị cao hơn rất nhiều so với người châu Phi, nhưng ở Ẩn Độ, số trẻ em thiếu dinh dưỡng lại nhiều hơn òvùng cận Sahara thuộc chậu Phi, nhiều hơn không những theo số liệu tuyệt đối mà cả theo tỷ lệ phần trăm trong toàn bộ trẻ em. Nếu cộng thêm tình trạng chết yểu do sự phân biệt nam nữ, một vấn đề khá lớn ở Ấn Độ mà ở vùng cận Sahara thuộc chậu Phi không có nhiều như thế, thì chúng ta sẽ thấy bức tranh của Ấn Độ càng kém thuận lợi hơn rất nhiều so với châu Phi.

thiếu dinh dưỡng ở Ấn Độ


      Có những vấn đề chính sách quan trọng liên quan đến bản chất và tính phức tạp của các mậu hình khốn khó tại hai vùng nghèo khổ gay gắt nhất trên thế giới. Ưu thế của Ấn Độ so với vùng cận Sahara thuộc châu Phi về mặt tồn vong có liên quan đến một loạt các yếu tố đã làm cho người châu Phi dễ bị chết non. Từ ngày giành được độc lập, Ấn Độ tương đối không có nạn chết đói, và tình hình chiến tranh liên miên, quy mô lớn đã luôn luôn tàn phá nhiều nước châu Phi. Dịch vụ y tế ở Ấn Độ còn chưa đầy đủ nhưng ít chịu sức ép áp đảo của những rối ren về chính trị và quân sự. Hơn nữa, nhiều nước thuộc vùng cận Sahara của châu Phi đã phải nếm trải tình hình suy thoái kinh tế cụ thể – một phần do chiến tranh, rối ren và lận xộn về chính trị – và điều đó làm cho họ rất khó có thể cải thiện được mức sống. Một sự đánh giá có tính so sánh những thành tựu và thất bại của hai khu vực cần phải lưu ý đến các khía cạnh ấy và các khía cạnh khác trong sự phát triển của mỗi khu vực.

      Người ta cũng phải tính đến một điểm chung giữa Ấn Độ và vùng cận Sahara của châu Phi là nạn mù chữ dai dẳng, một đặc điểm, cũng giống như tình trạng chết non, khiến cho Nam Á và vùng cận Sahara của châu Phi khác hẳn phần lớn các vùng còn lại của thế giới. Tỷ lệ biết chữ ở hai vùng rất giống nhau. Tại Ấn Độ và vùng cận Sahara thuộc châu Phi, cứ hai người ở tuổi trưởng thành thì có một người mù chữ.

     Tất nhiên, ba đặc điểm tập trung của tình trạng mất mát năng lực cơ bản mà tôi đã tập trung so sánh và tương phản, đối chiếu giữa Ân Độ và vùng cận Sahara thuộc châu Phi (chết non, thiếu dinh dưỡng và mù chữ) tất nhiên không nêu ra được một bức tranh toàn diện về nghèo nàn năng lực tại các nơi đó, nhưng đã làm sáng tỏ một số thất bại nổi bật và một số vấn đề chính sách quan trọng đòi hỏi phải được chú ý ngay. Tôi cũng đã không cố gắng xây dựng một sự cân đo “tổng thể” về tình trạng bị tước đoạt dựa vào “sự cân đo” các mặt khác nhau của việc bị tước đoạt năng lực. Một tồng thể được xây dựng có thể thường ít lý thú cho sự phân tích chính sách hơn so với mẫu hình thiết yếu của những hoạt động và kết quả đa dạng.


Đọc thêm tại:

Sự biến động của nền kinh tế Mĩ

     Cũng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, ở Mĩ quá trình tích tụ và tập trung tư bản, tích tụ và tập trung sản xuất  ngày càng diễn ra với tốc độ nhanh, trên quy mô lớn. Đây là thờikỳ các tổ chức tư bản tài chính Mĩ mờ rộng và bánh trướng quyền lực kinh tế, chính trị.  Nước Mĩ với 18 tập đoàn tư bản lớn như Moócgan, Rôccơphenlơ, Đuypông v.v. đã khống chế hầu hết các mạch máu kinh tế quan trọng của đất nước. Vốn tự có của các tập đoàn này khoảng 6 tỉ đô la.

     Riêng tập đoàn Moócgan, vào năm 1969 thì mối quan hệ của nó có dung lượng tiền tệ lên tới 170 tỉ đô la. Ở Mĩ, trong 18 tập đoàn tư bản tài chính nói trên có 10 tập đoàn lớn nhất, tập trung 200 công ti độc quyền lớn kiểm soát 60% công nghiệp cả nước. Đó là cáccông ti siêu quốc gia, phạm vi kinh doanh của nó mở rộng ra cả trong và ngoài nước, với nhiều ngành nghề đa dạng khác nhau. Chính những công ti này, giá trị kinh doanh của nó đã vượt lên giá trị sản phẩm quốc dân ròng của một sô nước. Ví dụ vào năm 1971 giá trị kinh doanh của Công ti Giơnerơn đạt 28,2 tỉ đô la, Công ti Pho đạt 16,43 ti đô la.  

    Do thực hiện ý đồ bành trướng kinh đô, Mi vẫn tăng cường chạy đua vũ trang, thực hiện quân sự hóa nền kinh tế.Vìvậy, chi phí quân sự cua Mĩ tăng nhanh, năm 1945  Mĩtăng số sản phẩm xã hội, năm 1975 tăng tới 10% tổng sản phẩm xã hội (97,5 tỉđôla). Những tập hợp công nghiệp quân sự ở Mĩ phát triển rất mạnh và đãthu hút được nhiều lợi nhuận  qua các hợp đồng béo bởvới nhà nước. Một trong những điển hình là Côngti Giơncrơn Mótơ kết hợp với tập đoàn iluypong đứng đầu trong danh sách 500 công ti lớn trên thế giới chuyên sản xuất xe tăng, máy bay,ô tôv.v. Khốilượng hàng hóa bán ra hàng năm trị giá 18,75 tí đô la. Nhìn chung, trong thập kỉ  50, 60, 70 thì Mĩ vẫn là nước xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới.

kinh tế Mĩ


    Nhìn vào nến kinh tế Mĩ, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai tới năm 1975 – khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, kinh tế Mĩ đã trải qua một thời ki đầy biến động. Sự phát triển không đều, không ổn định và có xu hướng giảm dần là đặc điểm nổi bật của nền kinh tế Mĩ. Từ năm 1948, kinh tế Mĩ đã trải qua 7 cuộc khủng hoảng có tính chát chu kì của chủ nghĩa tư bản. Mỗi cuộc khủng hoảng đều gây ra sức chấn động không nhỏ với kinh tế Mĩ. Điều đó thể hiện rất rõ nét ở tốc độ tăng trưởng kinh tế 1951-1973 bình quân là 4,5%, 1974-1979 bình quân là 2,4%, về sản xuất công nghiệp 1951-1973 tốc độ bình quân hàng năm là 5,4%, nhưng 1974-1979 giảm xuống 2,1%.


Từ khóa tìm kiếm nhiều:tang truong kinh te, kinh te nhat ban

Sự nghèo khổ bị tước đoạt ở Ấn Độ và vùng cận Sahara châu Phi

     Hiện nay, nạn nghèo khổ cùng cực tập trung chủ yếu tại hai vùng đặc biệt của thế giới: Nam Á và vùng cận Sahara thuộc châu Phi. Trong tất cả các khu vực thì đó là những vùng có thu nhập thấp nhất, nhưng cách nhìn ấy không cho chúng ta một ý niệm đầy đủ về bản chất và nội dung của tình trạng bị tước đoạt và tình trạng nghèo khổ tương đối của họ.

     Thay vào đó, nếu nghèo khổ được coi là bị tước mất các năng lực cơ bản thì chúng ta có thể có được một bức tranh sáng tỏ hơn từ những thông tin về các phương diện của đời sống tại các vùng này của thế giới. Dưới đây là một đoạn phân tích ngắn, dựa trên một công trình nghiên cứu chung của tôi và Jean Drèze và hai tác phẩm tiếp theo của bản thân tôi.

    Vào khoảng năm 1991, có 52 nước có tuổi thọ dưới 60 và có tồng dân số 1,69 tỷ người. Trong số đó, có 46 nưóe thuộc Nam Á và vùng cận Sahara của châu Phi- và chỉ có 6 nước nằm ngoài hai vùng này (đó là Ápghanixtan, Campuchia, Haiti, Lào, Bờ Biển Ngà và Yêmen) vàtổng dân số của 6 nước này chiếm 3,5% tồng dân số của 52 nước có tuổi thọ thấp nói trên. Toàn bộ vùng Nam Á trừ Sri Lanka (bao gồm Ân Độ, Pakixtan, Bănglađét, Nêpan, và Bhutan) và toàn bộ vùng cận Sahara thuộc chậu Phi trừ Nam Phi, Zimbabwe, Lesotho, Botswana và một nhóm các đảo nhỏ (như Mauritius và Seychelles) thuộc vào số 46 nước có tuổi thọ thấp. Tất nhiên, bên trong từng nước có nhiều sự khác biệt.

Sự nghèo khổ ở Ấn Độ


    Những bộ phận dân cư có địa vị cao tại Nam Á và vùng cận Sahara của châu Phi có tuổi thọ cao, và như đã nêu ở trên, trong số các nước có tuổi thọ trung bình cao (như Mỹ) thì vẫn có một số bộ phận dân cư gặp phải những vấn đề tuổi thọ gần giống với tình hình của thế giới thư ba. Thí dụ, những người da đen trong các thành phố của Mỹ như New York, San Francisco, Saint Louis hoặc Washington D.c có tuổi thọ thấp hơn khá nhiều so với mức 60 của chúng ta. Nhưng xét theo mức trung bình của các nước, thì Nam Á và vùng cận Sahara thuộc chậu Phi đúng là những vùng tập trung những người có tuổi thọ ngắn và có cuộc sống bấp bênh trong thế giới đương đại.

    Thực vậy, riêng Ấn Độ đã chiếm hơn một nửa tồng số dân của 52 nước khốn khó nói trên. Điều đó không có nghĩa là Ấn Độ là nước tệ nhất về mặt tuổi thọ bình quân (thực tế thì tuổi thọ bình quân ở Ấn Độ là xấp xỉ 60, và theo các thống kê gần đây nhất thì đã ở trên mức 60), nhưng có sự khác biệt lớn về điều kiện sống giữa các vùng bên trong của Ấn Độ. Một số vùng của Ấn Độ (có dân số lớn bằng hoặc lớn hơn hầu hết các nước khác trên thế giới) cũng kém cỏi như bất kỳ nước nào khác. Xét về tuổi thọ và các chỉ tiêu khác, Ấn Độ có thể đạt được mức bình quân khá hơn những nước kém cỏi nhất (thí dụ Êthiôpi hoặc Zaire mằ bây giờ gọi là Cộng hoà Dân chủ Công Gô), nhưng có những vùng rộng lớn của Ấn Độ có tuổi thọ và có các điều kiện sinh hoạt tối thiểu khác không khác gì lắm so với các nước khốn khó nhất.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: tăng trưởng kinh tế, kinh tế nhật bản

Kinh tế Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai

     Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước trên thế giới bước vào công cuộc khôi phục kinh tế. Với tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn, Mĩ tăng cường thao túng nến kinh tế thế giới tư bản. Mĩ đã thực hiện kế hoạch Mácsan với việc viện trợ cho các nước Tây Âu. Tổng số tiền các nước Tây Âu xin của Mĩ la 29 tỉ đô la, nhưng Mĩ đã hạ xuống khoáng 12- 17 tỉ đô la.

     Các nước khi nhận viện trợ phải chấp nhận những điêu kiện rang buộc vao Mĩ, như trong lĩnh vực tiền tệ, cac nước Tây Âu phải hạ giá hối đoái; phải cung cấp cho Mĩ nhưng thông tin về kinh tế kĩ thuật, và hàng nhập khẩu của Mĩ vào Tây Âu phải được Mĩ qui định thuế v.v… Do vậy, kế hoạch Macsan do Mĩ vạch ra đã đạt hai ý đồ nô dịch và kiểm soát Tây Âu, đồng thời chính sách viện trợ chủ yếu bằng hàng hóa giúp Mĩ tiêu thụ hàng hóa ế thừa và thực hiện chính sách đầu tư để chiếm lĩnh thị trường Tây Âu. Bân cạnh đó, Mĩ con ép các nước đống minh, cùng thực hiện chính sách cấm vận về kinh tế, kĩ thuật với Liên Xô và các nước Đông Âu.

Kinh tế Mĩ


    Với tham vọng to lớn về kinh tế, Mĩ tăng cường xâm nhập và bành trướng vào các khu vực kinh tế khác trên thế giới. Do vậy bên cạnh kế hoạch Mácsan, Mĩ còn tiến hành viện trợ cho các nước đang phát triển, tính ra, trong khoảng 23 năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đã viện trợ cho các nước này khoảng 90-100 tỷ đô la. Qua con đường viện trợ, Mĩ thực hiện được những ý đồ của chủ nghĩa thực dân mới trên các phương diện kinh tế, chính trị với các nước đang phát triến về kinh tế, các nước này thành nơi đầu tư, thị trường và cung cấp nguyên liệu cho công nghịêp Mĩ. Vì tính ra hàng năm Mĩ cần tăng xuất khẩu hàng hóa khoảng 1,2-2 tỉ đô la, cần tăng xuất khẩu tư bản khoảng 2-3 tỉ đô la.         

     Nhìn chung hoạt động xuất khẩu tư bản của Mĩ tăng nhanh. Trong thời gian 1950-1969, vốn Mĩ đầu tư ở nước ngoài từ 11 tỉ đô la lên 70 tỉ đô la. Như vậy, số lượng tăng lên gấp nhiều lần. Vào những năm 50, 60, vốn đầu tư của Mĩ ờ nước ngoài có nhiều điểm đáng chú ý. Mĩ rất chú trọng đầu tư vào Tây Âu và Canada, vì ở đó dễ ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật, cũng như công nghệ mới. Riêng với các nước đang phát triển, Mĩ vẫn hướng sự đầu tư vào các ngành công nghiệp truyền thống và bước đầu có sự chuyển dịch sang ngành công nghiệp chế biến.


Vấn đề chăm sóc sức khỏe ở Mỹ và Châu Âu

      Việc mở rộng cơ sở thông tin từ thu nhập đến năng lực cơ bản đã làm phong phú thêm sự hiểu biết của chúng ta về bất bình đẳng và nghèo nàn một cách khá cấp tiến. Khi chúng ta tập trung vào năng lực được tuyển dụng và được có những lợi thế liên quan đến công việc làm thì chúng ta thấy bức tranh chậu Âu là khá ảm đạm, và khi chúng ta xem xét khả năng sống lâu thì bức tranh bất bình đẳng ở nước Mỹ lại khá khắc nghiệt.

      Làm cơ sở cho những khác biệt đó và các ưu tiên về chính sách gắn liền với chúng có thể có một sự tương phản quan trọng về thái độ đối với các trách nhiệm cá nhân và xã hội ở hai bên bờ Đại Tây Dương. Trong các ưu tiên chính thức của Mỹ, có ít sự cam kết về chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho tất cả mọi người dân và dường như nhiều triệu người Mỹ (trên thực tế là trên 40 triệu người) không hề được hưởng một loại chi phí y tế hoặc bảo hiểm nào.

chăm sóc sức khỏe ở Mỹ


      Có thể là một bộ phận đáng kể trong số những người không có bảo hiểm đó đã có những lý do để tự nguyện làm như thế, nhưng trên thực tế đại đa số những người đó thiếu khả năng mua bảo hiểm y tế là đo điều kiện kinh tế, và trong một số trường hợp đó là vì các công ty bảo hiểm tư nhân không chịu trách nhiệm điều trị những bệnh mà đương sự đã có trước khi mua bảo hiểm.

     Ở châu Âu, chăm sóc y tế được coi là một quyền cơ bản của cồng dân, bất kể tài sản như thế nào và khống phụ thuộc vào tình hình bệnh tật đã có từ trước và do đó, về mặt chính trị, có rất nhiều khả năng chậu Âu không thể dung thứ được một tình hình gần giống như ở Mỹ. Ở Mỹ, có những giới hạn quá khắc nghiệt trong sự trợ giúp của chính quyền cho người bị đau ốm và người nghèo mà ở chậu Âu khôngthể nào chấp nhận được, và Mỹ không thể chấp nhận việc nhà nước phúc lợi chậu Âu coi các cam kết xã hội đối với các dịch vụ công từ chăm sóc sức khoẻ cho đến các cơ sở giáo dục là điều dĩ nhiên.

     Mặt khác, mức thất nghiệp hai con số mà hiện nay chậu Âu đang chấp nhận lại có rất nhiều khả năng bị Mỹ (như đã nói ở trên) coi là một quả bom chính trị, bởi vì mức thất nghiệp cao như vậy sẽ làm người dân không còn khả năng tự giúp mình. Tôi tin rằng không một chính quyền nào ở Mỹ lại có thể vô sự nếu để cho mức độ thất nghiệp hiện nay tăng lên gấp đôi- dù rằng tăng gấp đôi thì tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ cũng vẫn thua mức hiện thời ở Ý hoặc Pháp, Đức. Dường như có sự khác nhau cơ bản về bản chất các cam kết chính trị- hoặc về thiếu cam kết- ờ Mỹ và chậu Âu và những sự khác nhau ấy có liên quan chặt chẽ đến việc coi bất bình đẳng là thiếu những năng lực cơ bản.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: quyền tự do kinh doanh, kinh tế nhật bản

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Kinh tế Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới

      Năm 1914, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Đó là cuộc chiến tranh giữa hai liên minh đế quốc là Đức – Áo – Hung và Anh – Nga – Pháp. Cuộc chiến tranh kéo dài trong thời gian là 4 năm (1914-1918). Mĩ là nước không chịu ảnh hưởng và thiệt hại do chiến tranh gây ra, mà còn lợi dụng chiến tranh để làm giàu. Chiến tranh thế giới thứ nhất ví như trận mưa vàng với nền kinh tế Mĩ, lợi nhuận Mĩ thu về là 35 tỉ đô la. Do vậy, Mĩ đã trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, tiền tệ trong thế giới tư bản và cũng là nước chủ nợ lớn với nhiều quốc gia khác.

      Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, chủ nghĩa tư bản bước vào thời kì tổng khủng hoảng. Từ 1918 tới 1939, nền kinh tế Mĩ đứng trước nhiều biến động. Cuộc khủng hoảng kinh tế 1920-1921 đả diễn ra trong thế giới tư bản. Chính cuộc khủng hoảng kinh tế này bắt đầu từ Mĩ, sau lan ra các nước tư bản khác. Kinh tế Mĩ có sự giảm sút nhanh chóng.

Kinh tế Mĩ


      Trong công nghiệp, sản lượng gang giảm 54%, sản lượng thép giảm 53,1% Thỡi gian tiếp theo 1924-1928, kinh tế Mĩ có sự phát triển nhất định, nhưng chỉ mang tính chất cục bộ và tạm thời. Sản xuất ở Mĩ đạt 1,8 lần so với trước chiến tranh. Trong sản xuất, Mi chú ý giảm bớt chì phí sản xuất bằng cách đổi mới trang thiết bị ki thuật, sử dụng rộng rãi động cơ điêzen trong lĩnh vực giao thông vận tả, sản xuất các loại nhiên, nguyên liệu tổng hợp va áp dụng những phương pháp mới trong kĩ thuật luyện kim v.v… Riêng trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế nhiều nước Tây Âu đãrơi vào tình trạng bị lệ thuộc về tài chính với Mĩ.

      Thời gian nền kinh tế Mĩ phát triển ổn định, tạm thời qua đi, thi cuộc khủng hoảng kinh tế (1929-1933) đã diễn. ra. Quyxuất công nghiệp chỉ còn ngang mức năm 1905-1906, sản xuất nông nghiệp ờ Mĩ cũng rơi vào tình trạng trì trệ. Năm 1933, Mĩ phải phá hủy 25% diện tích canh tác 6,4 triệu v.v… Tinh hình sản xuất như vậy, nên tình trạng công nhân thất nghiệp tăng nhanh. Năm 1932, số công nhân thất nghiệp là 13,2 triệu người. Cuộc khủng hoảng kinh tế (1929-1933) như một cơn ác mộng với Mĩ chấm dứt. Sau đó tới năm 1936, thi chỉ một năm sau, Mĩ lại bước vào cuộc khủng hoảng mới, sản xuất công nghiệp ở Mĩ giảm 21,9%.

      Khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) diễn ra, nền kinh tế Mĩ phát triển với tốc độ khá nhanh. Trong thời gian này, sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 15%. Do vậy, trong khi nhiều nước tư bản khác đang chìm nổi do hậuhọa của chiến tranh, thi lợi nhuận Mĩ thu vế trong thời gian chiến tranh là 117,2 tỉ đô la. Khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mĩ đã chiếm 1/2 sản lượng công nghiệp, 3/4 kim ngạch xuất khẩu và 3/4 trữ lượng vàng trong thế giới tư bản. Với ưu thế về kinh tế, Mĩ đã trở thành kẻ thống trị tuyệt đối trong thế giới tư bản những năm sau chiến tranh.



Đọc thêm tại:

Tác động của sự thất nghiệp

      Các phán xét về bất bình đẳng trên cơ sở thu nhập có thể rất khác với các đánh giá có liên quan đến các năng lực quan trọng, và có thể dễ dàng minh hoạ điều này bằng các thí dụ có tầm quan trọng thực tế nào đó. Trong bối cảnh chậu Âu, sự tương phản này đặc biệt quan trọng do có thất nghiệp phổ biến tại chậu Âu hiện nay. Việc mất thu nhập do thất nghiệp có thể được bù đắp lại ở mức độ đáng kể nhờ có trợ cấp thu nhập (bao gồm cả trợ cấp thất nghiệp), và đó là tình hình điển hình ở Tây Âu.

     Nếu thất nghiệp chỉ gây ra mất thu nhập, thì đối với những người thất nghiệp, sự mất mát ấy có thể được xoá đi ở mức độ lớn do được trợ cấp thu nhập (tất nhiên sự bù đắp đã gây ra các chi phí xã hội, gánh nặng tài khoá và tác động khuyến khích chờ đợi sự bù đắp). Tuy vậy, nếu thất nghiệp gây ra những tác động nghiêm trọng đối với đời sống của các cá nhân, tạo ra những mất mát thuộc loại khác nữa, thì sự cải thiện thông qua trợ cấp thu nhập sẽ bị hạn chế ở mức độ đó.

     Có rất nhiều bằng chứng cho thấy nạn thất nghiệp đã gây ra nhiều tác động rộng lớn khác ngoài việc mất thu nhập, kể cả tác hại tâm lý, mất hứng thú lao động, mất kỹ năng và sự tự tin, tăng thêm tình-trạng ốm đau bệnh tật (và thậm chí cả tỷ lệ tử vong), làm tan vỡ quan hệ gia đình và đời sống xã hội, làm gia tăng tình trạng bị xã hội ruồng bỏ, làm gaygắt thêm sự căng thẳng về sắc tộc và mất cân đối giữa nam và nữ.

sự thất nghiệp


     Do nạn thất nghiệp có quy mô lớn trong các nền kinh tế của chậu Âu đương đại, nên nếu chỉ tập trung vào bất bình đẳng về thu nhập thôi thì chúng ta đặc biệt dễ bị nhầm lẫn. Thực vậy, có thể lập luận rằng vào lúc này, bản thân tình trạng thất nghiệp ở châu Âu ít ra cũng là một vấn đề bất bình đẳng quan trọng ngang với bản thân sự phân phối thu nhập. Việc đặt trọng tâm duy nhất vào bất bình đẳng về thu nhập có thể tạo ra cảm tưởng rằng Tây Âu đã làm tốt hơn rất nhiều so với Mỹ trong việc giữ sự bất bình đẳng ờ mức thấp và tránh làm gia tăng bất bình đẳng về thu nhập như đã xảy ra ở Mỹ.

    Thực vậy, về mặt thu nhập, chậu Âu rõ ràng đã có thành tích tốt hơn cả về cấp độ và chiều hướng của bất bình đẳng như đã được nêu bật bởi một cuộc điếu tra kỹ lưỡng được trình bày trong một nghiên cứu của OECD do A. B. Atkinson, Lee Rainwater và Timothy Smeeding chuẩn bị. Không chỉ mức độ thông thường của bất bình đẳng về thu nhập ở Mỹ cao hơn so với chậu Âu nói chung mà bất bình đẳng về thu nhập ở Mỹ đã tăng lên theo một cách mà chưa hề xảy ra ở hầu hết các nước Tây Âu.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: vai trò của thông tin, kinh te nhat ban

Kinh tế Mĩ sau giai đoạn 1861-1865

     Sản xuất phát triển góp phần tăng nhanh xuất khẩu trong thời gian 1860-1914, xuất khẩu tăng 24 lần. Với ưu thế mạnh mẽ về kinh tế, Mĩ tăng cường bành trướng kinh tế không chỉ dừng ở phạm vi Mĩ la tinh mà cả một vùng rộng lớn thuộc khu vực Thái Binh Dương. Đất thuộc địa của Mĩ lên tới 716.666 dặm vuông, gồm Haoai, Cuba, Philippin v.v… Năm 1914, số dân ở thuộc địa của Mì là 9,7 triệu người.

     Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Mĩ nổi bật vào những năm cuối của thế kĩ XIX là do nhiều nguyên nhân.Nội chiến Mĩ 1861-1865 với việc thủ tiêu chê độ nô lệ đồn điền ở phía Nam đã được coi là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Mĩ. Đồng thời chính chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đã giúp cho công nghiệp Mĩ tránh khỏi sự cạnh tranh với hàng công nghiệp nước ngoài. Mặt khác, chính thắng lợi của con đường trang trại tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp đã tạo ra hậu thuẫn vững chắc cho công nghiệp trong quá trình phát triển.

Kinh tế Mĩ


    Thời gian này Mĩ vẫn tiếp tục thu hút được nguồn vốn, sức lao động và kĩ thuật từ châu Âu chuyển sang. Với Mĩ, việc huy động tư bản của nước ngoài được diễn ra trên quy mô rộnglớn. Năm 1869 là 3.300 triệu đô la. Từ 1865-1875, riêng ngành đường sắt Mĩ đã 2 tỉ đô la đầu tư của nước ngoài. Trong việc huy động vốn của nước ngoài Mĩ có điều đáng chú ý: vốn là quốc gia dộc lập và mạnh, nên việc huy động và sử dụng tư bản nước ngoài không bị kéo theo về chính trị xã hội; cũng trong thời gian trên, nhịp độ dân di cư sang Mĩ vẫn rất khẩn trương.

      Trong 40 năm cuối của thế ki XIX, co 14 triệu người đã di cư sang Mĩ. Do vậy, dân số ở Mĩ tăng lên rất nhanh, năm 1860 là 31 triệu, năm 1910 là 92 triệu. Nhìn chung, nguồn công nhân ngoại quốc đã đóng một vai trò rất quan trọng. Thực tế cho thấy, trong tiến trinh phát triển công nghiệp Mĩ đã dựa vào kho nhân lực tiềm tàng của thế giới.

     Việc hình thành những ngành công nghiệp quan trọng va hiện đại của Mo_cõ~lìKưhg dong gop to lon cũa kĩ thuật cháu Àu. Vào cuòi thè ki XIX, đầu thế kĩ XX, những xí nghiệp lớn của các ngành công nghiệp nặng được xây dựng, đều gắn với những thành tựu moi nhát của khoa học kĩ thuật. Nhm chung, sự biến đổi về co’ cấu công nghiệp gắn liền với xu thế khoa học kĩ thuật rất thuận lợi với Mĩ vì sự đổi mới tư bản cố định ở Mĩ không diền ra nặng nề như ờ Anh.

     Từ năm 1890-1900, Mĩ có khoảng 234-956 phát minh sáng chế; trong đó có nhiều phát minh sáng chế lớn tạo điều kiện cho những ngành công nghiệp mới ra đời, như công nghiệp sản xuất ô tô, máy bay, công nghiệp hóa học v.v… Đãy là bước thay đổi nhảy vọt trong kĩ thuật sản xuâỆ công nghiệp. Trong sự phát triển nhanh chóng về kinh tế của Mĩ vào cuối thế kĩ XIX đẩu thế kĩ XX cũng phải tính đến lợi thế của Mĩ so với nhiều quốc gia tư bản khác là Mĩ- có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, có vị tri địa lí thuận lợi.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: nền kinh tế mỹ, kinh tế nhật bản

Quan điểm về tổng thể và phân phối

      Không có gì ngạc nhiên, sự xung đột giữa quan điểm tổng thể và quan điểm phân phối đã nhận được sự chú ý nghề nghiệp đáng kể trong các nhà kinh tế học. Điều đó là thích hợp, vì đây là một vấn đề quan trọng. Nhiều công thức có tính dung hoà đã được đề xuất để đánh giá những thành quả về xã hội bằng cách đồng thời lưu ý đến quan điểm tổng thể và quan điểm phân phối.

     Một thí dụ tốt là quan điểm “thu nhập tương đương được phân phối đều” của A. B. Atkinson, một quan niệm đã điều chỉnh thu nhập tổng thể bằng cách giảm giá trị được tính toán của nó căn cứ vào mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, và sự đánh đổi giữa các mối quan tâm có tính tổng thể và quan tâm có tính phân phối bằng việc lựa chọn một tham số phản ảnh sự đánh giá của chúng ta về đạo lý.

phân phối


     Tuy nhiên, có một loại xung đột khác có liên quan đến việc lựa chọn “bình diện”- hoặc biến số tập trung để nhờ đó xem xét và đánh giá sự bất bình đẳng- và điều này có liên quan đến chủ đề của chương trước. Bất bình đẳng về thu nhập có thể khác nhau khá nhiều so với bất bình đẳng trong các “bình diện” khác (tức là xét theo các biến số có liên quan khác), chẳng hạn như niềm hạnh phúc, sự tự do, và các khía canh khác nhau thuộc chất lượng cuộc sống (kể cả sức khoẻ và tuổi thọ). Và, ngay các thành quả tổng thể cũng sẽ có những hình thức khác nhau tuỳ theo không gian trong đó mọi thành phần- hoặc là các “tổng cộng”- được tạo ra (thí dụ, xếp hạng các xã hội theo thu nhập bình quân có thể khác với xếp hạng theo các điều kiện sức khoẻ bình quân).

     Sự tương phản giữa các cách nhìn khác nhau về thu nhập và năng lực có tác động trực tiếp đến không gian trong đó sự bất bình đẳng và hiệu quả được xem xét. Thí dụ, một người có thu nhập cao nhưng không có cơ hội tham gia chính trị thì không phải là “nghèo” theo nghĩa thông thường, nhưng rõ răng là nghèo về một quyền tự do quan trọng. Một người giàu hơn hầu hết những người khác nhưng bị bệnh và phải tốn rất nhiều tiền để điều trị rõ ràng bị tước đoạt theo một cách quạn trọng mặc dù người đó không được phân loại là nghèo trong thống kê thông thường về phân phối thu nhập. Một người bị mất việc làm nhưng được nhà nước trợ cấp “phụ cấp thất nghiệp” có thể dường như ít bị tước đoạt hơn nhiều trên bình diện thu nhập, nhưng lại bị mất mát nhiều so với cơ hội quý báu- và được trân trọng- là có một công việc làm thoả mãn ước muốn của mình. Bởi vì vấn đề thất nghiệp là đặc biệt quan trọng tại một số vùng trên thế giới (kể cả chậu Âu đương đại), đây là một lĩnh vực nữa trong đó cần phải nắm được sự tương phản giữa các cách nhìn về thu nhập và năng lực trong bối cảnh đánh giá sự bất bình đẳng.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế mỹ, kinh te nhat ban

Kinh tế Mĩ từ sau nội chiến (1865-1914)

      Đây là thời kì nền kinh tế Mĩ phát triển rất nhanh chóng và đa dạng, về công nghiệp, từ sau nội chiến có sự gia tăng đáng chú ý về số lượng, chát lượng. Đặc biệt mở mang xây dựng đường sắt được coi là một bước tiến. Từ năm 1890 tới 1913, mạng lưới đương sắt tăng 143%. Đường sắt đã đưa lại cho nước Mĩ không chi sự phát triển kinh tế, mà còn là sự thông nhất về kinh tế. Do vậy, sư khác biệt về kinh tế giữa miền Bắc – Trung – Nam đã được giảm bớt.

      Công nghiệp từ phía Bắc đã bắt đầu lan tỏa ra các vung trong nước. Chính việc mở mang xây dựng đường sắt đã kích thích công nghiệp nặng với các ngành khai mỏ, luyện kim, chế tạo cơ khí v.v. phát triển. Thực tế cho thấy sự phát triển của công nghiệp gắn liền với sự gia tăng tư bản. Năm 1859, vốn đầu tư vào công nghiệp là 1010 triệu đô la, năm 1914 là 22.791 triệu đô la. Riêng trong lĩnh vực khai khoáng, vốn đầu tư tăng 20 lần. Số lượng công nhân cung tăng nhanh.

Kinh tế Mĩ từ sau nội chiến


      Năm 1850 là 957.000 công nhân. Năm 1909 la 6.015.000 công nhân. Đồng thời số lượng xí nghiệp cũng tăng lên, năm 1850 là 123.000 xí nghiệp, năm 1900 là 512.000 xí nghiệp. Đây là thời kì nhiều nhà máy có quy mô lớn, trang bị kĩ thuật hiện đại đã được xây dựng. Hoạt động của công nghiệp Mĩ có nhiều điểm đáng chú ý. Khối lượng sản phẩm công nghiệp năm 1894 tăng 498% so với năm 1860. Sản lượng than từ 29 triệu tấn (năm 1870) lên 214 triệu tấn (năm 1900).

      Cũng trong thời gian ấy, sản lượng thép từ 68.000 tấn tăng lên 10.188.000 tấn. Tỉ trọng giữa công nghiệp và nông nghiệp cũng thay đổi nhanh chóng, trong thời gian (1850-1860) giá trị sản phấm công nghiệp đã tăng 3 lẩn so với giá trị sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời tỉ trọng công nghiệp Mĩ trong nền công nghiệp thế giới cũng có sự thay đổi: năm 1860 Mĩ chiếm 15% năm 1900 là 30%. Sự thay đổi ấy đã đưa Mĩ trở thành quốc gia công nghiệp đứng đầu thế giới.

      Với nông nghiệp, công cuộc khai thác ở phía Tây tiếp tục diễn ra trên quy mô rộng lớn. Trong điều kiện cụ thể, kinh tế trang trại tư bản chủ nghĩa linh động. Trong sản xuất nông nghiệp, cơ khí hóa được đẩy mạnh, may móc được sử dụng ngày càng nhiều. Trong thời gian 1860-1910 giá trị máy móc phục vụ nông nghiệp tăng 5 lần. Nông nghiệp được tiến hành trong điều kiện như vậy, nông giá trị sản lượng  nông nghiệp tăng lên nhanh chóng, năm 1890 là 2,5 tỉ đô la năm 1914 là 10 tỉ đô la.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh te my, kinh tế nhật bản

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Sự bất bình đẳng giữa các sắc tộc

      Gần đây, đã có sự chú ý đáng kể đến tình trạng bất bình đẳng giữa các nhóm sắc tộc khác nhau ở Mỹ. Thí dụ, về mặt thu nhập, người Mỹ da đen dứt khoát là nghèo hơn người Mỹ da trắng. Điều này thường được coi là một thí dụ về tình trạng mất mát, khốn khó tương đối của người Mỹ da đen trong nước Mỹ, chứ không được so sánh với những người nghèo hơn tại các vùng còn lại trên thế giới.

      Thực vậy, nếu so sánh với nhân dân các nước thế giới thứ ba, xét về thu nhập, người Mỹ da đen có thể glàu hơn họ gấp nhiều lần, ngay cả khi đã chú ý đến sự khác biệt về giá cả. Theo cách nhìn này, thì sự khốn khó của người Mỹ da đen dường như chẳng có ý nghĩa gì trên bình diện quốc tế.

     Nhưng liệu thu nhập có phải là không gian thích hợp để tiến hành những so sánh ấy không? Thế còn năng lực cơ bản để sống đến tuổi glà và không bị chết yểu thì sao? Xét theo tiêu chuẩn ấy thì những nam giới gốc Phi của Mỹ thua khá xa những nam giới nghèo hơn nhiều ở Trung Quốc hoặc bang Kerala của Ân Độ, thậm chí thua cả người Sri Lanka, Costa Rica, Jamaica và nhiều nền kinh tế nghèo khác. Đôi khi người ta giả định rằng tỷ lệ tử vong tương đối cao của người Mỹ gốc Phi là chỉ ở nam giới, nhất là nam thanh niên, do sự lan tràn của bạo lực. Đúng là tử vong do bạo lực thực sự là cao trong nam thanh niên gốc Phi ở Mỹ nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện.

Sự bất bình đẳng


     Thực vậy, ngay cả khi chúng ta xem xét các nhóm tuổi cao hơn (thí dụ, nhóm người từ 35 đến 64 tuổi), vẫn có bằng chứng cho thấy rằng đàn ông da đen có tỷ lộ tử vong cao hơn rất nhiều so với đàn ông da trắng, phụ nữ da đen có tỷ lệ tử vọng cao hơn rất nhiều so với phụ nữ da trắng. Những khác biệt ấy không thể xoá bỏ được bằng cách điều chỉnh sự chênh lệch trong thu nhập. Trên thực tế, một trong những nghiên cứu y học kỹ lưỡng hơn liên quan đến những năm 1980 cho thấy rằng khoảng cách về tỷ lệ tử vong giữa phụ nữ Mỹ da đen và da trắng vẫn còn khá lớn dù đã có điều chỉnh căn cứ vào sự chênh lệch vẻ thu nhập.

     Theo điều tra đó, tỷ lệ tử vong của nam giới da đen cao gấp 1,8 lần so với nam giới da trắng và tỷ lệ tử vong của phụ nữ da đen cao gần gấp 3 lần so với phụ nữ da trắng. Sau khi đã điều chỉnh căn cứ vào mức chênh lệch về thu nhập gia đình thì tỷ lệ tử vong của đàn ông da đen cao gấp 1,2 lần và của phụ nữ da đen cao gấp 2,2 lần so với người da trắng ờ Mỹ. Như vậy, ngay cả khi đã chú ý đầy đủ đến các mức thu nhập thì ở nước Mỹ đương đại, phụ nữ da đen chết trẻ với tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với phụ nữ da trắng.


Đọc thêm tại:

Nội chiến ở Mĩ (1861-1865)

      Vào đầu những năm 60, vùng đất phía Tây đã trở thành điểm nóng phản ánh cuộc tranh chấp quyết liệt giữa các chủ trang trại phía Bắc và các chủ đồn điền nô lệ phía Nam. Việc thủ tiêu chế độ nô lệ đồn điền đã trở thành vấn đề bức bách đặt ra với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói chung và con đường trang trại tư bản nói riêng.

       Thực tế cho thấy rằng, chế độ kinh tế, chính trị, xã hội ở phía Nam – nơi thông trị của các chủ đồn điền nô lệ đã gây nhiều trở ngại cho công nghiệp phía Bắc trên con đường phát triển. Điều đó thể hiện rất rõ và dễ nhận thấy qua nhiều phương diện khác nhau. Vì với công nghiệp phía Bắc, việc mở rộng về quy mô cần có thị trường nhân công, cũng như nguồn nguyên liệu. Nhưng ở phía Nam, các chủ đồn điền nô lệ không cần quan tâm tới số phận công nghiệp trong nước.

      Do vậy, ở phía Nam đã thực hiện chính sách “tự do mậu dịch”. Chính sách này đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của công nghiệp phía Bắc và hoàn toàn nghịch lí với chính sách bảo hộ công nghiệp ở đó. Bên cạnh đó, trong các đồn điền nô lệ phía Nam với phương thức kinh doanh sản xuất lạc hậu đã giam hãm hàng triệu nô lệ da đen, nên không đáp ứng được nhu cầu về nhân công của công nghiệp phía Bắc. Mặt khác, ‘là sự nghèo khổ của những người nô lệ da đen cũng gây tình trạng giảm sút sức mua trên thị trường hàng công nghiệp.

Nội chiến ở Mĩ (1861-1865)


       Những mâu thuẫn kinh tế, chinh trị xã hội nói trên ngày càng diễn ra sâu sắc, dẫn tới sự bùng nổ cuộc nội chiến ở Mĩ (1861 – 1865). Cuộc nội chiến này nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa hai thế lực là chủ tư bản công nghiệp ở phía Bắc và chủ nô lệ đồn điền phía Nam. Ngày 9 tháng ,4 năm 1865, nội chiến đả kết thúc. Trong thời kì nội chiến, 4 triệu người đã bị chết, nhưng kết quả là chế độ nô lệ đồn điền ở phía Nam đã bị thủ tiêu, cùng với sự thắng thế của con đường trang trại tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp.

      Đồng thời 4 triệu sức lao động nô lệ da đen được giải phóng, là nguồn nhân lực quan trọng bổ sung cho công nghiệp. Bên cạnh đó, để đảm bảo cho công nghiệp trong nước có thị trường nội địa rộng lớn, chính sách bảo hộ mậu dịch đã được thực hiện trên phạm vi toàn bộ nước Mĩ. Với việc kết thúc nội chiến, kinh tế Mĩ sang thời kì mới.

Từ khóa tìm kiếm nhiều:tang truong kinh te, kinh te nhat ban