Pages

Subscribe:

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Các mối quan hệ với nhau và bổ sung cho nhau

Các quyền tự do công cụ này trực tiếp làm tăng các năng lực của người dân, nhưng chúng cũng bổ sung cho nhau, và có thể củng cố lẫn nhau. Điều đặc biệt quan trọng là cần nắm bắt những mối quan hệ đó khi xem xét các chính sách phát triển.
Thực tế rằng quyền được phép thực hiện các giao dịch kinh tế có xu hướng cơ bản là một động cơ lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã được chấp nhận rộng rãi. Nhưng nhiều mối quan hệ khác còn ít được công nhận và chúng ta cần nắm bắt chúng một cách đầy đủ hơn trong hoạt động phân tích chính sách. Tăng trưởng kinh tế không những có thể giúp tăng thu nhập cá nhân mà còn làm cho nhà nước có thể tài trợ bảo hiểm xã hội và có sự can thiệp công cộng tích cực. Vì vậy, sự đóng góp của tâng trưởng kinh tế không chỉ cần được xem xét về mặt tăng thu nhập cá nhân, mà cả về mặt phát triển các dịch vụ xã hội (kể cả, trong nhiều trường hợp, các mạng lưới an toàn xã hội) mà tăng trưởng kinh tế có thể tạo ra.

Các mối quan hệ


Cũng như vậy, việc tạo ra những cơ hội xã hội, thông qua các dịch vụ như giáo dục công, chăm sóc y tế và phát triển báo chí tự do và năng động có thể góp phần vào phát triển kinh tế và giảm bớt nhiều tỷ lệ tử vong. Đến lượt mình, việc giảm bớt tỷ lệ tử vong có thể góp phần làm giảm tỷ lệ sinh đẻ, tăng cường ảnh hưởng của giáo dục cơ bản đối với tỷ lệ sinh đẻ- đặc biệt là làm cho phụ nữ biết đọc, biết viết và được đi học.
Tất nhiên, Nhật Bản là tấm gương đi đầu trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua cơ hội xã hội, đặc biệt là giáo dục cơ bản. Đổi lúc người ta đã quên rằng Nhật Bản đã có một tỷ lệ biết chữ cao hơn châu Âu ngay cả trước thời kỳ Minh Trị phục hưng vào giữa thế kỷ 19 khi công nghiệp hoá chưa diễn ra ở Nhật Bản nhưng đã diễn ra ở châu Âu trong nhiều thập niên. Sự phát triển kinh tế của Nhật Bản rõ ràng đã có sự góp phần đáng kể của việc phát triển nguồn nhân lực liên quan đến các cơ hội xã hội đã được tạo ra. Cái gọi là Sự thần kỳ Đông Á bao gồm các nước khác ở Đông Á ở mức độ lớn cũng dựa vào những mối quan hệ nhân quả tương tự.
Cách tiếp cận này đi ngược lại- và ở mức độ lớn là phá hoại- niềm tin phổ biến trong nhiều giới hoạch định chính sách cho rằng “phát triển nhân lực” (như người ta thường gọi quá trình phát triển giáo dục, chăm sóc y tế và các điều kiện khác của đồi sống) là một loại hàng xa xỉ mà chỉ các nước giàu hơn mới có thể chịu đựng được. Có lẽ tác động quan trọng nhất của loại thành công của các nền kinh tế Đông A, đi đầu là Nhật Bản, là đã hoàn toàn phá huỷ định kiến ngụ ý nói trên. Các nền kinh tế này đã tiến hành phát triển tương đối sớm giáo dục một cách ồ ạt và, sau đó, chăm sóc y tế, và trong nhiều trường hợp, họ đã tiến hành điều đó trước khỉ họ phá vỡ được những ràng buộc của sự nghèo khó. Và họ đã thu hoạch được những gì họ đã gieo trồng. Thực vây, Hiromitsu Ishi đã chỉ ra rằng sự ưu tiên cho phát triển nhân lực được áp dụng đặc biệt trong thời kỳ đầu của lịch sử phát triển kinh tế của Nhật Bản, bắt đầu bằng thời kỳ Minh Trị (1868- 1911), và sự tập trung ấy đã không tăng thêm cùng với sự giàu có về kinh tế khi Nhật Bản đã trở nên giàu sang hơn nhiều.


Đọc thêm tại : http://blogtimhieukinhte.blogspot.com/2015/06/xa-hoi-van-hanh-dua-tren-mot-gia-inh-co.html


0 nhận xét:

Đăng nhận xét