Pages

Subscribe:

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Kinh tế Mĩ từ sau nội chiến (1865-1914)

      Đây là thời kì nền kinh tế Mĩ phát triển rất nhanh chóng và đa dạng, về công nghiệp, từ sau nội chiến có sự gia tăng đáng chú ý về số lượng, chát lượng. Đặc biệt mở mang xây dựng đường sắt được coi là một bước tiến. Từ năm 1890 tới 1913, mạng lưới đương sắt tăng 143%. Đường sắt đã đưa lại cho nước Mĩ không chi sự phát triển kinh tế, mà còn là sự thông nhất về kinh tế. Do vậy, sư khác biệt về kinh tế giữa miền Bắc – Trung – Nam đã được giảm bớt.

      Công nghiệp từ phía Bắc đã bắt đầu lan tỏa ra các vung trong nước. Chính việc mở mang xây dựng đường sắt đã kích thích công nghiệp nặng với các ngành khai mỏ, luyện kim, chế tạo cơ khí v.v. phát triển. Thực tế cho thấy sự phát triển của công nghiệp gắn liền với sự gia tăng tư bản. Năm 1859, vốn đầu tư vào công nghiệp là 1010 triệu đô la, năm 1914 là 22.791 triệu đô la. Riêng trong lĩnh vực khai khoáng, vốn đầu tư tăng 20 lần. Số lượng công nhân cung tăng nhanh.

Kinh tế Mĩ từ sau nội chiến


      Năm 1850 là 957.000 công nhân. Năm 1909 la 6.015.000 công nhân. Đồng thời số lượng xí nghiệp cũng tăng lên, năm 1850 là 123.000 xí nghiệp, năm 1900 là 512.000 xí nghiệp. Đây là thời kì nhiều nhà máy có quy mô lớn, trang bị kĩ thuật hiện đại đã được xây dựng. Hoạt động của công nghiệp Mĩ có nhiều điểm đáng chú ý. Khối lượng sản phẩm công nghiệp năm 1894 tăng 498% so với năm 1860. Sản lượng than từ 29 triệu tấn (năm 1870) lên 214 triệu tấn (năm 1900).

      Cũng trong thời gian ấy, sản lượng thép từ 68.000 tấn tăng lên 10.188.000 tấn. Tỉ trọng giữa công nghiệp và nông nghiệp cũng thay đổi nhanh chóng, trong thời gian (1850-1860) giá trị sản phấm công nghiệp đã tăng 3 lẩn so với giá trị sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời tỉ trọng công nghiệp Mĩ trong nền công nghiệp thế giới cũng có sự thay đổi: năm 1860 Mĩ chiếm 15% năm 1900 là 30%. Sự thay đổi ấy đã đưa Mĩ trở thành quốc gia công nghiệp đứng đầu thế giới.

      Với nông nghiệp, công cuộc khai thác ở phía Tây tiếp tục diễn ra trên quy mô rộng lớn. Trong điều kiện cụ thể, kinh tế trang trại tư bản chủ nghĩa linh động. Trong sản xuất nông nghiệp, cơ khí hóa được đẩy mạnh, may móc được sử dụng ngày càng nhiều. Trong thời gian 1860-1910 giá trị máy móc phục vụ nông nghiệp tăng 5 lần. Nông nghiệp được tiến hành trong điều kiện như vậy, nông giá trị sản lượng  nông nghiệp tăng lên nhanh chóng, năm 1890 là 2,5 tỉ đô la năm 1914 là 10 tỉ đô la.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh te my, kinh tế nhật bản

1 nhận xét:

Đăng nhận xét