Pages

Subscribe:

Ads 468x60px

Featured Posts

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

Lập luận của Adam Smith về thị trường

     Cần đối đầu với những ảnh hưởng đó không chỉ thông qua việc chống trả- mà có lẽ cả bằng “vạch mặt” (đây là dùng một từ đã cũ) những kẻ trục lợi từ các thị trường bị giam hãm, và cả bằng cách xem xét kỹ và đả kích các lập luận trí tuệ của họ. Kinh tế học đã có truyền thống lâu đời về định hướng phê phán đó, ít nhất là từ bản thân Adam Smith, người đã vạch mặt các thủ phạm đồng thời vạch trần những lập luận của họ vin cớ lợi ích xã hội để ngăn cấm cạnh tranh. Smith lập luận rằng những giới đặc quyền có khả năng thắng lợi vì họ có “hiểu biết tốt hơn về lợi ích của bản thân họ” (chứ không phải là “họ có hiểu biết về lợi ích công cộng”). Adam Smith đã viết:

     “Tuy nhiên, lợi ích của các nhà kinh doanh trong bất cứ ngành thương nghiệp hoặc chế tạo nào luôn luôn khác và thậm chí trái ngược với lợi ích của công chúng trên một số mặt nào đố. Các nhà kinh doanh luôn luôn có quyền lọi trong việc mở rộng thị trường và thu hẹp cạnh tranh. Nhiều khi mỏ rộng thị trường có thể là tương đối phù hợp với lợi ích của công chúng, nhưng thu hẹp cạnh tranh thì luôn luôn đi ngược lại lợi ích của công chúng và chỉ khiến cho các doanh nhân cố thể tăng lợi nhuận nhiều hơn mức lợi nhuận tự nhiên của họ và, vì lọi ích riêng của mình, áp đặt một thứ thuế vô lý lên các công dân. Việc đề nghị bặt cứ luật lệ, quy định mới nào về thương mại thuộc loại này cần phải luôn luôn được lắng nghe một cách rất thận trọng vả không bao giờ nền được thông qua trước khi xem xét kỹ càng trong một thời gian dài không những với sự chăm chú tỷ mỉ nhất mà cỏn với sự nghi ngờ lớn nhất”

thị trường


     Nếu cho phép và thúc đẩy tranh luận công khai thì không có lý do gì các giới đặc quyền lại glành được thắng lợi. Lập luận nổi tiếng của Pareto đã minh hoạ một nghìn người bị tồn thất nhẹ về lọi ích do chính sách nuôi béo lợi ích của một nhà kinh doanh, nhưng khi người ta đã thấy rõ tình hình thì không phải không có khả năng một đa số sẽ chống lại những lập luận đặc biệt đó. Đây là một lĩnh vực lý tưởng để có thêm nhiều cuộc thảo luận công cộng về các ý kiến khẳng định và phản bác của các bên khác nhau, và trong cuộc thử thách của nền dân chủ cởi mở, lợi ích công cộng có thể có triển vọng tốt đẹp để chiến thắng luận điệu ngang bướng của nhóm nhỏ các giới đặc quyền. Cũng giống như ở nhiều bình diện khác đã được bàn đến trong cuốn sách này, phương thuốc chữa chạy là cần có thêm quyền tự do hơn nữa- gồm cả thảo luận công cộng và các quyết định chính trị có sự tham gia của công chúng. Một lần nữa, một loại quyền (trong trường hợp này đó là tự do chính trị) có thể được coi như đã góp phần vào việc đạt được các loại quyền tự do khác (đạc biệt là sự cởi mở về kinh tế).


Từ khóa tìm kiếm nhiều: tăng trưởng kinh tế, kinh tế nhật bản

Nét nổi bật trong quá trình cách mạng công nghiệp ở Nhật

       Một nét nổi bật trong quá trình cách mạng công nghiệp ở Nhật là sự tách rời giữa nông nghiệp và công nghiệp, nông nghiệp ngày càng lạc hậu hơn so với công nghiệp. Mặc dù trong thời kì Minh Trị, một số biện pháp cải tiến trong nông nghiệp đá được thực hiện như áp dụng giông mới, cải tiến thủy lợi, phổ biến sử dụng phân bón v.v… nhưng nông nghiệp được coi là lĩnh vực ít được chú ý đầu tư. Nông nghiệp vẫn trong tinh trạng sản xuất nhỏ, lạc hậu, ruộng đất bị phân tán. Cho đến đầu thế kỷ XX, trên 2/3 dân số vẫn song chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Vì vậy, ngay từ đầu ở Nhật đá hình thành nên hai khu vực kinh tế trái ngược nhau, một khu vực công nghiệp hiện đại Và một khu vực nông thôn lạc hậu.

       Mặc dù cho đến đầu thế kỷ XX, Nhật Bản còn kém các nước Mĩ, Đức, Anh, Pháp về mặt chỉ tiêu tuyệt đôi, nhưng cách mạng công nghiệp từ sau cải cách Minh Trị đả phát triển nhanh chóng, nhất là trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nhật Bản đã biết tiếp thu nhanh chóng kỹ thuật từ bên ngoài để đẩy nhanh nhịp độ phát triển các ngành công nghiệp. Từ năm 1888 đến 1913, sản lượng khai thác than tăng lên 20lần, sản lượng đồng tăng lên 13 lần. Nhịp độ phát triển công nghiệp trung bình hàng năm từ 1878 đến 1913 tăng khoảng 6%.

công nghiệp ở Nhật


      Cách mạng công nghiệp ở Nhật cũng được gắn liền với quá trình chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền.

       Phân tích đặc điểm của đế quốc Nhật, Lênin đã gội đó là chủ nghĩa đế quốc phong kiến quấn phiệt. Ớ Nhật, nhiều tổ chức độc quyền đã xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu của cách mạng công nghiệp. Năm 1880, Liên hiệp độc quyền giấy được thành lập. Hãng Misui có từ thế kỷXVI đã phát triển thành công ti kinh doanh cả trong công nghiệp và thương nghiệp. Phần lớn các hãng cho vay nặng lãi thời kì phong kiến đã nhanh chóng trở thành các hãng tư bản lớn. Các tập đoàn tài phiệt như Mitsui, Mitsubisi, Xumimôtô đã chiếm địa vị thống trị và chi phối toàn bộ nền kinh tế Nhật Bản.

      Mặc dù Nhật Bản đã bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, nhưng những tàn dư của chế độ phong kiến vẫn còn tồn tại rất dai dẳng. Những tàn dư này thể hiện rõ nét trong các lĩnhvực kinh tế, chinh trị, trong các môi quan hệ xãhội và giađình. Lợi dụng một số nhân tố tư bản độc quyền Nhật bảntăng cường bóc lột sức lao động của các tầng lớp nhân dân  kể cả phụ nữ và trẻ em. Vì vậy, những người lao động Nhật phải lao động hết sức vất vả với điều kiện sống thấp kém ;Để mở rộng thị trường thuộc địa, đế quốc Nhật đã tiến hànhchiến tranh xâm lược hết sức điên cuồng và thô bạo. Đó là các cuộc chiến tranh Trung – Nhật (1894-1895), chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905), chiến tranh xâm lược Triều Tiên (1910).

Bangkok-Venice Phương Đông

         Sáng sớm tinh mơ, trời chưa sáng rõ, sương đêm chưa tan hết, tiếng rao hàng huyên náo từ “ khu chợ trên sông” dã đánh thức cả thủ đô Bangkok của nước Thái Lan còn chìm trong giấc ngủ. Thành phố Bangkok lại bắt dầu một ngày mới.

        Bangkok nằm ở phía nam Thái Lan, cách vịnh Bangkok chừng 20 km. Diện tích thành phố Bangkok là l568km2 tính cả vùng ngoại thành, dân số 5.550.000 người. Dòng sông Mêkông mà người Thái gọi là “Sông Mẹ” từ từ chảy qua phía Tây thành phốBangkok chia ra làm nhiều nhánh sông khiến Bangkok chằng chịt sông ngòi, địa thế trũng thấp, từng bị gọi là “Biển bùn”. Người dân Bangkok cần cù với đôi tay của minh đã đào nên dòng hào thành và những dòng sông khác, băc nhiều chiếc cầu như những dải lụa căng ngang sông. Một phần trăm dân thành phô”Bangkok cất nhà ở dọc theo sông rạch, họ cất nhà sàn gỗ trên mặt nước, lợp nhà bằng lá dừa. Sóng lượn nhấp nhô, thuyền ghe đu đưa theo sóng, nhà sàn hai bên bờ sông in hình xuống mặt nước lung linh, bồng bềnh, trông đẹp như tranh, hiện rõ hình ảnh một thành phô” trên nước, vì thế mà mang tên gọi “Thành phố Venice của phương Đông”

Bangkok-Venice Phương Đông


        Đường sông, kênh rạch uốn lượn quanh co tạo nên phố phường ngõ hẻm, ghe xuồng, thuyền máy thay thê” cho xe cộ. Hằng ngày, ở sông lớn hay kênh rạch nhỏ đều có ghe xuồng nườm nượp ngược xuôi như mắc cửi. Những chiếc ghe lượn độc mộc thon dài như lá liễu chở đầy rau quả, đồ gia dụng… chèo dọc theo kênh rạch rao bán hàng. Những người mua hàng với xuống mũi thuyền lựa những thứ mình cần mua, hình thành những điếm bán hàng lưu động nối tiếp nhau không đi. Nhiều tiệm bán hàng cất nhô ra bờ sông cùng tranh nhau mọc lên buôn bán. Ánh nắng mặt trời lấp lánh chiếu xuống mặt nước lung linh.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: quyền tự do kinh doanh, kinh tế nhật bản

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Nền kinh tế của chế độ phong kiến Nhật Bản

       Nông nghiệp là cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến Nhật. Nông dân bị bóc lột đến cùng cực, tô thuế nặng nề. Từ năm 1771 đến 1789 có gần một triệu người bị chết đói. Phần lớn ruộng đất tập trung vào tay bọn phong kiến, quý tộc. Một bộ phận trong tầng lớp trên bị phân hóa. Sự chuyển biến về mặt xã hội và khủng hoảng của nến kinh tế nông nghiệp từ thế kỉ XVIII đã làm cho nền kinh tế phong kiến Nhật ngày càng bị lung lay tận gốc.

      Từ cuối thế kỉ XVII, nội thương bắt đầu được mở rộng và đã đóng vai trò quan trọng làm tan rã dần chê độ phong kiến Nhật. Trước thế kỉ XVIII, hàng hóa thường được trao đổi trực tiếp, tô hiện vật là chủ yếu, nhưng dần dần quan hệ hàng  tiền ngày càng phát triển nhất là ở vùng Tây Nam. Cuối thế kỉ XVII có khoảng 14,51% dân số sống về nội thương. Hoạt động của bọn đầu cơ ở vùng nông thôn đã thu hút phần lớn hoạt động thủ công nghiệp gia đình của nông dân và đẩy nhanh sự phá sản của nông dân. Bọn đầu cơ và tầng lớp thương nhàn ngày càng có thế lực kinh tế mạnh mẽ. Ngay cả một bộ phận lãnh chúa, võ sĩ đạo do bị nghèo đói cũng phải lệ thuộc vào tầng lớp này.

Nền kinh tế Nhật Bản


        Trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất bắt đầu có sự tách rời giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thành thị và nông thôn. Cuối thế kỉ XVII, ở Nhật có đến 130 loại nghề thủ công. “Thủ công nghiệp gia đình” của nông dân phát triển và sự xuất hiện một tầng lớp thương nhân giàu có là tiền đề cho sự ra đời của công trường thủ công phân tán.

        Nhiều nhà buôn và chủ cho vay nặng lãi đã tích lũy được một số vốn lớn. Trong xã hội diễn ra sự phân hóa sâu sắc. Một bộ phận nông dân do bị bóc lột nặng nề đã rời bỏ nông thôn và trở thành những người làm thuê.

        Như vậy, từ thế kĩ XVII, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện, nhưng không có những điều kiện phát triển thuận lợi như ở châu Âu. Chế độ phong kiến chuyên chế ở Nhật không đóng vai trò quan trọng trong sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Nhà nước phong kiến Nhật thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”, cô lập với thế giới bên ngoài. Đầu thế kĩ XVII, thuyền buôn của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan đã đến buôn bán nhưng đều bị chính quyền phong kiến Nhật khước từ. Ở trong nước, quá trình tích lũy vốn diễn ra rất chậm chạp. Chế độ phong kiến Nhật tồn tại khá bền vững. Chế độ cát cứ, quy chế phường hội đã hạn chế sự phát triển thương nghiệp và công trường thủ công, phần lớn của cải cướp đoạt của nông dân tập trung vào tay bọn phong kiến quan lại ăn chơi xa xỉ. Các đạo luật cấm mua bán ruộng đất, cấm chia nhỏ ruộng đất đã làm giảm tốc độ phân hóa trong nông thôn. Do đó, “thủ công nghiệp gia đình” với tính tự cấp tự túc của nó có điều kiện tồn tại lâu dài.



Đọc thêm tại:

Tình hình kinh tế Mĩ sau năm 1976

        Nhìn vào kinh tế Mĩ từ sau 1976 tới nay có những chuyển biên nhất định. Nền kinh tế Mĩ từng bước ra khỏi khủng hoảng kinh tế (1980-1982) và sau đó đã tăng liên tục, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm trong thời kì (1980-1990) là 2.9% (so với 2,4% trong thời kì 1974-1979). Chỉ riêng năm 1988, ởMĩ có 1,3 triệu XI nghiệp mới được thành lập. Khối lượng sản phẩm mới hàng năm ngày càng nhiều. Ví dụ công ti “ZM” ờ Mĩ hơn 25% khối lượng hàng hóa bán ra trong năm là những sản phẩm mới mà 5 năm trước đó chưa từng có trên thị trường. Công ti ZM co tới 60.000 sản phẩm từ các loại quần áo trê em, tới các thiết bị y tế, lade, sợi quan học được bán trên thị trường rộng lớp 100 nước.

        Kể từ cuối thập kỉ 70, tuy Mĩ cố gắng vươn lên giành giật lại ưu thế trước đây đã mất trong thế giới tư bản, nhưng điều đó không dễ dàng thực hiện được. Vào năm 1980 tỉ trọng công nghiệp Mĩ trong thế giới tư bản giảm xuống 37%, nhưng Tây Âu lại tăng lên 31%, Nhật tăng lên 10%, Năm 1979, về xuất khẩu Mĩ giảm xuống 12%, Tảy Âu tăng lên 46%, Nhật tăng 8%. Về dự trữ vàng tính theo đô la, năm 1979 Mĩ khoảng 19 tỉ, Tây Âu là 48 tỉ, Nhật 25 tỉ. Trong lĩnh vực thương mại, không chỉ trên thị trường quốc tế, mà ngay trên đất Mĩ, hàng Nhật vẫn lôi cuốn được người tiêu dùng. Hàng Nhật bán trên đất Mĩ tỉ lệ bảo hành 1%, trong khi ấy với hàng Mĩ tỉ lệ bảo hành theo yêu cầu của khách hàng lên tới 70-80%.

kinh tế Mĩ


         Đây là vấn đề làm đau đầu các nhà kinh doanh Mĩ. Mặc dù họ đã chú trọng đổi mới công nghệ, đổi mới trong quản lý kinh doanh. Bên cạnh đó việc tăng lãi suất để thu hút nguồn vốn từ trong và ngoài nước khiến cho hoạt động tín dụng đã trở thành gánh nặng với nền kinh tế. Mĩ thiếu hụt ngân sách nặng nề hơn: 1979-1980 hụt 45 tỉ, đến 1990 hụt 220,4 tỉ đô la, lạm phát vẫn gia tăng.

          Nước Mĩ ra đời cách đây hơn 200 năm (1776), tới năm 1945, với tiềm năng kinh tế to lớn, Mĩ đã trở thành kẻ thống trị tuyệt đối trong thế giới tư bản. Nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trong đầu những năm 70, thì sự lớn mạnh của châu Âu và Nhật Bản đã làm thay đổi cục diện trong nền kinh tế thế giới tư bản. Đây là thời kì thế giới tư bản hình thành trung tầm Mĩ, Tây Âu và Nhật Bản. Vị trí kinh tế của Mĩ ngày càng suy giảm. Nhưng với tham vọng to lớn, từ những năm cuối của thập kỉ 70, Mĩ tìm cách khôi phục lại địa vị của mình trước đây. Qua thực tế thì ý đồ của Mĩ không dễ dàng thực hiện. Đứng trước Tây Âu và Nhật Bản, rõ ràng những thách thức lớn đang được đặt ra với Mĩ.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: vai trò của thông tin, kinh te nhat ban

Mĩ tiếp tục chạy đua vũ trang để thực hiện âm mưu của mình

         Các công ti Mĩ đua nhau áp dụng hình thức đội sản xuất tự quản. Hình thức này đã lan rộng trong các ngành công nghiệp như ô tô, điện tử, thực phẩm, thép v.v… thậm chí trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ở Mĩ vào những năm 80; 70% trong số 476 công ty to lớn đã áp dụng hình thức này.

        Mĩ vẫn xúc tiến chạy đua vũ trang quân sự hóa nền kinh tế. Từ 1981-1988 Mĩ đã chi 1830 tỉ đô la cho chương trình quân sự. Riêng chương trình SDI đã tiêu tốn của Mĩ hàng trăm tỉ đô la. Với chương trình này, ngoài cuồng vọng là một siêu cườngduy nhất, Mĩ muốn độc chiếm khai thác không gian vũ trụ. Trong những năm qua, Mĩ vẫn là nước xuất khẩu vũ khí lớn nhất từ 1985-1989, số vũ khí Mĩ xuất khẩu là 53 tỉ đô la, trong khi ấy Pháp là 16 tỉ đô la, Anh 8 tỉ đô la, Ý 2 tỉ đô la v.v. Vềphương diện quân sự, Mĩ ép Tây Âu và Nhật phải thực hiệnchính sách “chia sẻ trách nhiệm”. Nghĩa là Tây Âu và Nhật phải cùng chạy đua vũ trang, cũng chia sẻ gánh nặng quân sự vớiMĩ. Mĩ đã ép khối Natô phải hiện đại hóa vũ khí theo nguyên tắc thống nhất và đồng bộ. Thực tế Mĩ đã ép các nước trong khối Natô phải mua vũ khí và các thiết bị quân sự của Mĩ

chạy đua vũ trang


         Để giải quyết nguồn vốn trước những yêu cầu về kinh tế kĩ thuật, quân sự, Mĩ đã tăng lãi suất đồng đô la lên 9-15$ để thu hút vốn từ trong và ngoài nước. Ý đồ Mĩ muôn độc quyền chiếm nguồn tin dụng quốc tế. Từ 1981-1985, Mĩ đã hút 1060 tỉ đô la vốn đầu tư của nước ngoài.

         Ngoài những chính sách và biện pháp kinh tế nói trên, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, đứng trước cuộc chạy đua và cạnh tranh quyết liệt của Tây Âu, Nhật Bản, Mĩ không tránh khỏi những lúng túng, bị động. Thời gian qua những hoạt động liên kết kinh tế khu vực của các nước Tây Âu, cũng như của Nhật đang được nhen nhóm ở châu Á, Mĩ muốn lôi kéo Canada, Niudilân thành một liên minh kinh tế khu vực nhằm đôi phó với Tây Âu và Nhật, về kinh tế, Mĩ cũng chú ý tới sân sau của mình là khu vực Mĩ la tinh.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: nền kinh tế mỹ, kinh tế nhật bản

Kinh tế Mĩ từ sau chiến tranh Việt Nam (1976-1990)

Vào những năm 70, thế giới tư bản đã hình thanh ba trung tăm kinh tế là Mĩ – Tây Âu- Nhật Bản.Tuy sức mạnh kinh tế của Nhật Bản và Tây Âu cộng lại đã vượt Mĩ. Nhưng so với Tây Âu và Nhật Bàn, thi tiếm lực kinh tế kĩ thuật của Mĩ vẫn còn khá mạnh, đặc biệt là tiềm năng quân sự. Vì vậy, Mĩ bằng mọi thủ đoạn đã điên cuồng tìm cách giành lại ưu thế của mình với tư cách là trung tâm kinh tế kĩ thuật của thế giới tư bản.

      Mĩ ra sức lợi dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học  kĩ thuật hiện đại nhằm hiện đại hóa sản xuất và chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế.

      Trong công nghiệp, Mĩ hướng sự phát triển vào những ngành mang hàm lượng khoa học kĩ thuật cao, vốn đầu tư lớn, như công nghệ tin học, công nghệ vũ trụ, công nghệ sinh học, công nghệ sản xuất vật liệu mới v.v. Đãy là những ngành có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao và đang có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển cũng như ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Tuy đầu tư phát triển những ngành công nghiệp này vô cùng tốn kém, nhưng người Mĩ đãnhận thức được rằng nếu không chú trọng đầu tư dài hạn, thì ngay những lợi ích trước mắt nhiều khi cũng không thu hoạch được. Trong sản xuất, Mĩ chú ý nâng cao chất lượng sản phẩm, chỉ riêng những năm 80, Mĩ đã dành 20 tỉ đô la để mua các thiết bị kĩ thuật kiểm tra sản phẩm.

Kinh tế Mĩ


        Trong quá trình áp dụng công nghệ mới, người Mĩ đã nhận thấy việc đổi mới công nghệ phải gắn liền với đổi mới quản lí. Vào cuối thập kĩ 70, người Mĩ đã thừa nhận sự thất bại của mô hình quản lí Taylo trong sản xuất và kinh doanh hiện đại. Do vậy, một số xí nghiệp đã im lặng xem xét và áp dụng mô hình của Nhật trong điều hành sản xuất và kinh doanh. Những xí nghiệp này tuy có giành được một số kết quả, nhưng người Mĩ thấy rằng không thể sao chép nguyên mẫu mô hình quản li của Nhật vào điều kiện kinh tế xã hội ở Mĩ.

        Do vậy, vào cuối thập kĩ 80, người Mĩ đả tim kiếm tư duy mới trong quản lí. Nhìn chung trong quản lí ở Mĩ có một số điểm đáng chú ý. Các công ti, người ta chú trọng xây dựng bầu không khí hợp tác và sáng tạo. Các công ti đã có những hình thức mềm dẻo trong điều hành và quản lí lao động. Hiện nay quan điểm lôi cuốn người lao động tham gia quản lí sản xuất đang được nhiều người Mĩ quan tâm. Họ cho rằng vấn đề này sẽ đặt ra nhiều hứa hẹn cho kinh tế Mĩ trong việc cạnh tranh với Tây Âu và Nhật Bản. Tình hình những năm qua cho thấy nhiều công ti Mĩ đã giao quyền độc lập đáng kể cho các bộ phận sản xuất và kinh doanh. Các công ti chỉ tiến hành kiểm tra một sô lượng tôi thiểu các chỉ tiêu mà thôi.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế mỹ, kinh te nhat ban